Vietnamese (VN)English (UK)

Rừng ngập mặn và rủi ro trong nuôi trồng thủy sản ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam.

By Do Huu Luat (VNP K20)

Academic Supervisor: Dr. Truong Dang Thuy

TÓM TẮT

Sử dụng dữ liệu khảo sát từ hoạt động nuôi trồng thủy sản ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long năm 2014. Bài nghiên cứu phân tích tác động của rừng ngập mặn đến lợi nhuận và sự biến động của lợi nhuận từ các ao nuôi trồng thủy sản, quản canh và bán thâm canh (hầu hết là các ao nuôi tôm). Sử dụng khung phân tích Just-Pope cho hàm lợi nhuận ngắn hạn ngẫu nhiên để đánh giá tác động của các yếu tố đầu vào đến các thành phần xác định cũng như thành phần biến động của lợi nhuận. Các đặc trưng quan trọng nhất của rừng ngập mặn được sử dụng trong bài nghiên cứu này như diện tích rừng trong ao, mật độ cây/100 m2 và diện tích rừng ngập mặn trong bán kính 500m, 1000m và 2000m. Phương pháp ước lượng chính là Maximum likelihood (ML) được sử dụng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Ngoài phương pháp ML, các phương pháp ước lượng khác (FLGS, Robust S.E, và SUR) cũng được sử dụng để kiểm tra tính bền vững của kết quả hồi quy. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng rừng ngập mặn có tác động tiêu cực và tác động làm giảm biến thiên đến lợi nhuận trong các ao nuôi thủy sản quản canh và bán thâm canh. Từ kết quả này, hàm ý khi diện tích rừng ngâp mặn trong ao càng nhiều thì người dân có thể kiếm lợi nhuận cao hơn tại 1 rủi ro cao hơn, và những người ngại rủi ro sẽ trồng nhiều rừng ngập mặn trong khu vực nuôi thủy sản hơn những người bàng quan với rủi ro.

Từ khóa: Rừng ngập mặn, rủi ro sản xuất, nuôi trồng thủy sản, hàm lợi nhuận.

Chữ viết tắt: FGLS - Feasible Generalized Least Squares; ML - Maximum Likelihood; OLS – Ordinary Least Squares; SUR - Seemingly Unrelated Regressions; WRI - World Resources Institute.

Tham khảo thêm tại:

Full version is available at Library of Vietnam-Netherland Progamme: 1A Hoang Dieu, Phu Nhuan Dist, Ho Chi Minh city, Vietnam.