Vietnamese (VN)English (UK)

Những tính chất của hộ gia đình tác động lên cơ hội việc làm của phụ nữ: trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam

By Nguyễn Thị Tố Vy, VNP22

Bài nghiên cứu nhằm mục đích xác định những yếu tố ảnh hưởng lên quyết định tham gia vào lực lượng lao động và cung lao động của phụ nữ Việt nam. Chúng tôi thu thập mẫu từ bộ “Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt nam” năm 2014, bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi 15-55 sống trên 63 tỉnh và thành phố ở Việt nam. Trong độ tuổi này chúng tôi chia thành hai cỡ mẫu riêng biệt: mẫu đầy đủ (full-sample) với 9,171 quan sát bao gồm tất cả nữ giới nói chung (độc thân, đã kết hôn, ly thân, ly hôn, góa) và mẫu bán đầy đủ (sub-sample) với 4,077 quan sát chỉ bao gồm những phụ nữ đã kết hôn (là những phụ nữ đã lập gia đình và đang ở trạng thái kết hôn ngay tại thời điểm nghiên cứu).

Chúng tôi nhận thấy rằng những tính chất cá nhân riêng biệt như độ tuổi, tình trạng chủ hộ, tình trạng là thành viên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (sau đây gọi tắt là Hội viên Hội Phụ nữ) đã có những tác động mạnh mẽ lên công việc của người phụ nữ đã lập gia đình. Trong khi tuổi và tình trạng chủ hộ của người phụ nữ kết hôn có tác động âm lên cơ hội việc làm của chính họ thì trạng thái là hội viên Hội Phụ nữ lại có tác động dương rất mạnh mẽ lên cả nhóm phụ nữ kết hôn và nhóm nữ giới nói chung. Nếu một người nữ là hội viên Hội Phụ nữ thì họ sẽ có thêm 55.79% cơ hội việc làm. Chúng tôi cũng tìm thấy bằng chứng thể hiện rằng qui mô hộ gia đình không có tác động lên nhóm nữ giới trong bài nghiên cứu này. Ngược lại, nó lại có tác động thuận chiều mạnh mẽ lên nhóm phụ nữ kết hôn. Nghĩa là khi trong hộ gia đình có thêm một thành viên thì người mẹ của hộ này sẽ phải làm việc thêm 6 tiếng trong một tháng và xác suất để người mẹ này tham gia vào thị trường lao động tăng lên 2.6 điểm phần trăm. Quy mô hộ gia đình càng lớn càng làm tăng cơ hội tham gia vào thị trường lao động của người nữ đã lập gia đình, trong khi nếu số con của họ tăng lên lại làm cho cơ hội này của họ giảm đi. Phụ nữ đã kết hôn sống ở vùng nông thôn có nhiều cơ hội làm việc hơn phụ nữ đã kết hôn sống ở vùng thành thị nhưng nếu ở thành thị thì những phụ nữ này lại phải làm việc nhiều giờ hơn phụ nữ đã kết hôn ở nông thôn. Mặc dù mức lương của người chồng nếu được điều chỉnh tăng lên sẽ làm giảm sự tham gia vào thị trường lao động của người vợ xuống nhưng điều này không giúp cho việc cải thiện giờ làm việc thực tế của nhóm phụ nữ này. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi cũng tìm thấy bằng chứng rằng cơ hội việc làm của nữ giới không bị tác động bởi trình độ học vấn của người chồng và thậm chí là của chính họ. Hiện tượng mà một phụ nữ kết hôn mong muốn được tham gia các hoạt động kinh thế hơn là một phụ nữ chưa lập gia đình cũng được tìm thấy trong nghiên cứu này của chúng tôi.

Đối với nhóm phụ nữ đã từng kết hôn nhưng hiện tại không có sự trợ giúp từ người bạn đời như phụ nữ ly thân, ly hôn, góa thì các nhân tố như số con, địa bàn sinh sống, độ tuổi có tác động thiếu thuận lợi tới cơ hội việc làm của họ. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy bằng chứng về sự giảm cơ hội việc làm của họ khi số con tăng lên, địa bàn dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị và khi độ tuổi của nhóm phụ nữ này tăng lên.

Phụ nữ với tỷ lệ làm việc và số giờ làm việc quá cao chưa hẳn đã là tốt đối với họ. Nếu chúng ta muốn cải thiện cho phụ nữ về cả đời sống vật chất và tinh thần thì việc phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế và các công việc họ phải làm trong gia đình cần được cân nhắc và điều chỉnh phù hợp.